Translate

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

Những Loại Gia Vị Giàu Chất Chống Oxy Hóa

Muốn làm chậm quá trình lão hóa và tăng cường sức đề kháng, nên bổ sung các gia vị như quế, hạt tiêu, gừng, nghệ, tỏi… trong bữa ăn hằng ngày của bạn.



Những Bí Mật Về Đời Sống Và Cái Chết Của Vương Phi Diana, Công nương Xứ Wales


1* Mở bài
Ngày 4-5-2015, lúc 8 giờ 34 phút, tại bịnh viện Saint Mary, London, một đứa bé chào đời, là sự kiện làm trung tâm mà truyền thông loan truyền khắp nơi trên thế giới. Vì bé gái đó là một thành viên của Hoàng tộc Anh, một công chúa được xếp thứ tư trong danh sách những người sẽ kế vị làm vua nước Anh.
Dân Anh chào mừng. Hàng trăm phát súng thần công nổ rền trong thủ đô London.
Anh Quốc là một nước dân chủ. Rất dân chủ. Nhưng người Anh vẫn giữ truyền thống tôn kính hoàng gia. Trong lời tuyên thệ khi nhập quốc tịch Anh, có lời cam kết sẽ trung thành với Nữ Hoàng và những người sẽ kế vị.
Hoàng gia Anh là một đề tài mà báo chí khai thác không bao giờ dứt. Cái chết với nhiều giả thuyết bí ẩn của Công nương Diana các đây 18 năm, vẫn còn được nhắc tới vì Công nương là Nữ hoàng trong trái tim của người Anh.
2* Hôn lễ của Thái tử Charles và Công nương Diana
2.1. Đám cưới thần tiên



Ngày 29-7-1981, đám cưới Thái tử Charles với Công nương Diana được truyền hình trực tiếp đến 750 triệu người xem trên toàn cầu.
Đôi giày lụa thêu, mũ miện kim cương, một chiếc xe do ngựa kéo bằng thủy tinh. 2,500 thiệp mời đóng tem vàng được gởi đến cho khách.
Hơn 6,000 quà tặng được chuyển đến cung điện St. James. Bộ áo cưới may tay với 40 mét lụa, vải sợi được trồng và dệt tại nông trại nước Anh.
Nhẩn cưới 18karat chung quanh có đính 14 hạt kim cương, chiếc nhẩn trị giá 63,000 USD.
3* Mười lăm năm đau khổ
3.1. Ly thân
Một năm sau hôn lễ, khi bóng tối sau cuộc hôn nhân được phơi bày, Diana cho biết, ngay lúc bước chân lên đường đến nhà thờ làm lễ, Công nương đã biết Charles chưa bao giờ thôi yêu Camilla Parker Bowles. “Có tới ba người trong cuộc hôn nhân nầy vì vậy chúng tôi cảm thấy hơi chật chội”
Một năm sau đám cưới, khi hoàng tử William ra đời, cuộc hôn nhân đến lúc căng thẳng vì Charles chưa bao giờ thôi yêu Camilla Parker Bowles, vợ của người bạn thân là Thiếu tá Andrew Parker Bowles.
Lui về quá khứ, năm 1972 trong một bữa tiệc, Camilla tuyên bố một câu nổi tiếng: “Bà cố của tôi là người tình của ông cố của anh, tôi cảm thấy chúng ta có những thứ chung”. Bà cố và ông cố của hai người yêu nhau khi cả hai đều có gia đình, đó là điểm giống nhau trong hiện tại của Charles và Camilla.
Khi mọi người thấy hạnh phúc của Diana và Charles không thể cứu vãn được nữa, thì hành động của Diana khiến cho Hoàng gia nhận thấy Công nương là con ngựa bất kham.
Diana bị khủng hoảng tinh thần, rơi vào trầm cảm, kèm theo chứng rối loạn ăn uống làm cho cô dâu 20 tuổi suy sụp tinh thần và giảm cân thê thảm.
Năm 1994, khi trả lời phỏng vấn của đài BBC, Thái tử Charles cho biết ông và Camilla vẫn thường đi lại với nhau. Sau đám cưới với Diana, ông chỉ chờ cho cuộc hôn nhân đổ vỡ để ông trở về với Camilla. Từ đó người ta biết Charles chưa bao giờ yêu Diana cả. Bị ép cưới vợ vì muốn có con để nối dòng.
Cuối năm 1987, có một lúc cặp vợ chồng nầy không ở chung nhau liên tiếp đến 37 ngày. Đó là thời gian Diana cặp kè với những người đàn ông khác, trong đó có bác sĩ người gốc Pakistan là Hasnat Khan. Họ xem như một thú vui ngoài hôn nhân. “Ông ăn chả bà ăn nem”.
3.2. Năm nhân tình của Công nương Diana



Quản gia thân cận Paul Burrell * Ca sĩ Canada Bryan Adams * James Hewitt

 Một cựu thư ký của Diana là Michael Gibbins tiết lộ cho những nhân viên điều tra về cái chết của Diana như sau. Công nương Diana có quan hệ tình cảm với 5 người đàn ông khiến cho Hoàng gia không hài lòng. Đó là đội trưởng đội bóng bầu dục Anh tên là Will Carling, vệ sĩ Barry Manakee, sĩ quan kỵ binh James Hewitt, chuyên gia truyền thông James Gilbey và thương gia Oliver Hoare.
Trong 5 người nầy thì chỉ có James Hewitt thừa nhận có quan hệ tình cảm với Công nương Diana.
Thư ký riêng nầy cho biết, điện thoại của Diana có thể bị ghi âm. Diana và Dodi bị ám sát vì nhân viên an ninh phát hiện Diana đã có thai.
Michael Gibbins từng là thư ký riêng của Diana trong thời gian hơn một năm, chịu trách nhiệm về điều hành văn phòng và tài chánh.
Công nương Diana đã từng lên giường với quản gia Paul Burrell. Paul Burrell là quản gia thân cận nhất suốt trên 10 năm của Diana. Người anh vợ của Burrell cho biết anh ta thú nhận là đã có lên giường với Công nương Diana, nhưng Burrell không nhận.
Ngoài ra Bông hồng xứ Wales còn hò hẹn với ca sĩ người Canada là Bryan Adams khiến cho mối tình 12 năm giữa Bryan với nữ diễn viên điện ảnh người Đan Mạch Cecilie Thomsen phải tan vỡ.
Quản gia Paul Burrell của Diana tiết lộ rằng Công nương Diana có tất cả 9 người tình trong đó có ca sĩ Bryan Adams.
Thời gian đó Hoàng gia rất quan ngại vì Diana giao du tự do phóng khoáng với những con người “kỳ cục” không theo văn hóa truyền thống, như ca sĩ đồng tính Elton John, nhà báo Stephen Twigg, nhà tranh đấu nữ quyền Susie Orbach…mà nếp sống tự do phóng túng là đề tài tranh cãi trong xã hội Anh.
3.3. Ly hôn



Năm 1992, Thái tử Charles và Diana ly thân. Đó là thời gian hòa giải để xem hai bên có thể tái hợp hay không.
Cuộc ly hôn chính thức ngày 28-8-1996.
Sau những thương lượng hai bên về những điều kiện để thực hiện sau cuộc ly dị thì Diana nhận được số tiền 23 triệu USD. Có tin cho rằng Diana đòi 75 triệu USD. Danh hiệu “Her Royal Highness” của Diana bị tước bỏ, chỉ còn lại cái tên “Diana Công nương xứ Wales” (Diana Princess of Wales).
Theo luật của Hoàng gia, vì Diana là mẹ của hai người kế vị (Hoàng tử William và Harry) cho nên vẫn còn thuộc về gia đình Hoàng gia Anh.
Diana được giữ toàn bộ nữ trang, giữ hai căn phòng ở điện Kensington nơi mà Công nương đã ở đó. Còn được xử dụng hai văn phòng tại cung điện St. James để tiếp tục điều hành các công tác từ thiện.
4* Mười lăm năm đau khổ
Ngay sau khi ly hôn, Diana viết một bức thơ cho người quản gia là Paul Burrell, trong đó cô nhắc đến việc cô “bị đánh đập và bạo hành suốt 15 năm”. Bên cạnh đó, kèm theo thơ là những thách thức gởi đến Thái tử Charles: “Cám ơn Charles vì đã ném tôi vào địa ngục để từ đó tôi có cơ hội học hỏi từ những tội ác mà Ngài đã gây cho tôi. Nhờ đó, tôi có đủ nghị lực để tiến bước về phía trước”.
Đồng thời Diana gởi những nhắn tin và thơ nặc danh đe dọa những người thân tín của Thái tử Charles như thư ký riêng Patrick Jephson, người bảo mẫu chăm sóc hai hoàng tử là Tiggy Legg-Bourke. Thậm chí Diana còn gọi điện thoại vào lúc nửa đêm đe dọa Camilla: “Tôi đã cho người đến lấy mạng bà. Họ đang đứng ngoài cửa, bà hãy nhìn ra xem”.
Tuy nhiên, theo những thông tin mới nhất của tờ Daily Mail thì sự việc hoàn toàn trái ngược. Theo đó, Thái tử Charles dặn dò các nhân viên thuộc cấp rằng họ không được tung tin hay làm bất cứ việc gì có thể gây tổn hại cho Diana vì Công nương là mẹ của hai hoàng tử.
Thái tử Charles thừa nhận rằng ông cảm thấy Diana như người mất hồn, khó có thể nói chuyện đàng hoàng với cô được.
Bên ngoài, trước mắt quần chúng thì Charles và Diana tỏ ra mẫu mực của một gia đình hoàn toàn hạnh phúc, ấm cúng. Nhưng bên trong là những màn trao đổi những lời lẻ nặng nề qua lại giữa hai bên mà không ai biết.
Có lẻ vì thế mà đa số người Anh dành cho Diana trọn vẹn niềm tin và lòng cảm mến.
5* Mối tình vụng trộm của Công nương Diana
5.1. Diana ngoại tình.

“Ai là cha của Hoàng tử Harry?”. James Hewitt và Harry tóc đỏ giống nhau

Diana có mối tình vụng trộm với Trung úy Kỵ binh James Hewitt. Vụ việc bùng nổ trong dư luận khi vở kịch mang tựa đề “Diana, sự thật và dối trá” (Truth-Lies-Diana) mà nội dung đáng chú ý nhất là “Ai là cha của Hoàng tử Harry?”.
Vở kịch được trình diễn ở nhà hát Charing Cross, London từ ngày 9-1- 2015 đến 14-2-2015
Đối thoại trong vở kịch. Nhân vật đóng vai James Hewitt trả lời nhân vật đóng vai nhà báo: “Diana và tôi bắt đầu dan díu với nhau hơn một năm trước khi Hoàng tử Harry ra đời”. Đó là đối thoại trong vở kịch.
Tác giả vở kịch cho biết, nội dung dựa trên những cuộc phỏng vấn sâu rộng, trong đó có James Hewitt.
Ở ngoài đời thì James Hewitt cương quyết tuyên bố ông không phải là cha của Hoàng tử Harry. Trả lời phỏng vấn của tờ báo The Sunday Mirror, Hewitt cho biết: “Tôi và Diana có quan hệ tình cảm với nhau vào năm 1986, lúc đó Harry là một đứa bé 2 tuổi đang chập chững biết đi”. (When I met Diana, he was already a toddler).
James Hewitt cho biết thêm mặc dù tôi và Hoàng tử Harry có tóc đỏ giống nhau nhưng tôi hoàn toàn không phải là cha của Harry.
Người cận vệ của Công nương Diana là ông Ken Wharfe xuất bản một cuốn sách cho rằng dư luận độc ác đó đã làm cho Diana phát khùng lên. Ông nói, Hoàng tử Harry sanh ngày 15-9-1984, trong khi đó James và Diana gặp gỡ nhau vào năm 1986. Lúc đó Harry 2 tuổi.
Về phần James Hewitt thì khi mối tình vụng trộm suốt hai năm chấm dứt, ông sanh ra buồn chán và có ý tự tử. Đó là kế hoạch thực hiện một chuyến đi qua Pháp rồi tự sát bằng súng. Kế hoạch không thi hành được vì bà mẹ của James cứ khăn khăn đòi đi theo cho được.
Năm 2003, James quyết định bán 64 bức thơ tình Diana gởi cho ông với giá 10 triệu bảng Anh.
Nữ Công tước xứ York, Sarah cho rằng quyết định của James là một sự phản bội niềm tin, bà nói: “Sự phản bội là một điều rất kinh khủng, kinh khủng đối với bất cứ ai”.
6* Mối tình sâu đậm ít người biết


Công nương Diana và bác sĩ Hasnat Ahmed Khan

Dư luận nói nhiều về về cuộc hôn nhân của Công nương Diana với Thái tử Charles. Cũng có nhiều người biết đến quan hệ tình cảm của Diana với tỷ phú Dodi Al-Fayed, nhưng ít có ai biết đến mối tình sâu đậm và kín đáo của Diana với bác sĩ Hasnat Ahmed Khan, người Anh gốc Pakistan.
6.1. Tiếng sét ái tình
Tạp chí Vanity Fair cho biết, Công nương Diana và bác sĩ giải phẩu tim tên Hasnat Ahmed Khan gặp nhau một cách rất tình cờ tại phòng chờ đợi của bịnh viện Hoàng gia Royal Brompton Hospital vào ngày 1-9-1995.
Hình ảnh bất chợt của người bác sĩ bổng nhiên in sâu vào nội tâm tình cảm của Diana. Cho đó là tiếng sét ái tình (Love at the first sight).
Đó là thời gian Diana sống cô đơn trong lâu đài Kensington sau khi ly thân với Thái tử Charles vào năm 1992. Diana phải giữ kín mọi hành vi để tránh sự giám sát của đám mật vụ Hoàng gia và phóng viên của những tờ báo lá cải. Số điện thoại luôn thay đổi. Mỗi lần ra ngoài phải trùm tóc giả và mang kiếng đen.
6.2. Mối tình sâu đậm
Bạn bè kể lại, sau cuộc gặp gỡ bất ngờ đó, dường như mỗi ngày Diana đều đến bịnh viện để được thấy mặt bác sĩ Hasnat Khan. Cô tâm sự: “Tôi nghĩ mình đã gặp được chàng trai tuyệt vời của cuộc đời. Hasnat có cặp mắt nâu đen mà người ta muốn được chìm sâu vào trong đó”.
6.3. Chìm đắm trong men say tình ái
Hai tuần lễ sau, cái hẹn gặp mặt đầu tiên trong cuộc viếng thăm người chú của Hasnat ở ngoại ô London.
Sau đó hai người đi ăn tối trước khi về London.
Tháng 11 năm 1995, Diana nghịch ngợm gởi một lẵng hoa đến bịnh viện, tặng cho bác sĩ Hasnat mà không có kèm theo danh thiếp tên người gởi, nhưng bác sĩ nầy biết người đó là ai.
Nhân viên bịnh viện thấy bác sĩ Hasnat ôm bó hoa một cách nâng niu triều mến nên họ tò mò gọi điện thoại đến cửa hàng bán hoa, mạo danh là thân nhân của bác sĩ Hasnat và đe dọa sẽ trả lại bó hoa nếu không cho biết tên người gởi. Cửa hàng hoa cho biết đó là quà tặng từ điện Kensington.
Tin tức nầy lập tức bay đến cánh báo chí lá cải (Tabloid).
Năm 2004, bác sĩ Hasnat nói với nhân viên điều tra về cái chết của Công nương Diana như sau: “Nhóm báo chí lá cải tìm mọi cách để moi tin tức về tôi. Họ gặp bạn bè cũ, trường y khoa mà tôi theo học và cả đến những giáo sư đã nghỉ hưu.
6.4. Diana chưa chạm thực tế đời sống
Ở bên cạnh Diana, bác sĩ Hasnat nhận ra rằng Diana không sống theo cách thức bình thường của những con người bình thường. Mà rất xa thực tế.
Có lần chúng tôi đi quán bar để nghe nhạc, Diana hỏi xem cô ta có thể gọi đồ uống hay không vì cô ta chưa làm điều đó bao giờ cả. Cô hứng thú trò chuyện vui vẻ với cô gái bán bar.
Một lần khác, khi chúng tôi đang đứng xếp hàng trước câu lạc bộ trình diễn nhạc jazz, cô bổng thấy một người quen và kêu tên cô ta một cách mừng rỡ: “Tôi không ngờ gặp được nhiều người khi đứng xếp hàng như thế nầy”.
Có lần bác sĩ Hasnat đang ở Tây Ban Nha, Diana cho biết cô muốn bay sang đó để gặp ông. Bác sĩ nầy nói với cô ta rằng cô sẽ bị nhận ra thân phận trước khi lên máy bay. Diana đáp, tôi sẽ mang tóc giả để che giấu lý lịch.
Cô ấy không biết rằng tóc giả sẽ không giống với hình trong giấy thông hành, và tên họ của cô không thể che giấu được ai cả.
Diana tính tới việc kết hôn và sẽ sanh một đứa con gái cho Hasnat. Bác sĩ Hasnat cho biết họ có thể sống bình yên ở Pakistan vì nơi đó báo chí không làm phiền họ.
Diana tính toán rất kỹ về việc nầy. Cô bay sang người anh ở Nam Phi rồi sang Úc để xem nơi nào thích hợp cho đời sống của họ.
Tình yêu cuồng nhiệt đó khiến cho Diana trở nên ngớ ngẩn, thiếu suy nghĩ, xa rời thực tế, nhất là đó là lúc mà Công nương Diana đang bị khủng hoảng tinh thần và trầm cảm.
Năm 1996, dù đang sống trong tình trạng ly thân, đang đau đầu trong cuộc thương lượng những điều kiện để ly hôn, nhưng cô vẫn còn tâm sức về việc kết hôn, cô bay sang Pakistan để gặp gia đình Khan.
Tháng 10 năm 1996, hồ sơ ly hôn chính thức công bố, và ngay sau đó tờ Sunday Mirror đăng những bài nói về mối tình giữa bác sĩ Hasnat và Công nương Diana.
Phóng viên Richard Kay của tờ The Daily Mail, người thường tháp tùng những chuyến công tác từ thiện, đã bắt liên lạc với Diana, và cô cho biết tin tức đăng trên Sunday Mirror là nhảm nhí.
Ngày hôm sau, báo Daily Mail đăng bài binh vực Diana, cho rằng: “Diana vô cùng tức giận” vì bài báo đã làm tổn thương hai hoàng tử William và Harry.
Vì thế, bác sĩ Hasnat cảm thấy bị tổn thương, nhưng vì muốn bảo vệ danh dự cho người yêu nên ông im lặng.
7* Công nương Diana gặp Dodi Al-Fayed



Tỷ phú Ai Cập Mohamed Al-Fayed *   Diana và người tình Dodi al Fayed

Sau khi chính thức ly hôn với Thái tử Charles, Diana nhận lời mời của tỷ phú người Ai Cập là Mohamed Al-Fayed, sang nghỉ mát tại villa của ông ở St Tropez, phía nam nước Pháp. Ở đó cô được giới thiệu với đại gia Dodi Al-Fayed.
Ngày 17-7-1997, Diana và bác sĩ Hasnat gặp nhau lần cuối cùng, và Diana cho biết quyết định chấm dứt quan hệ tình cảm giữa hai người.
Thời gian đó, Diana bắt đầu đi du lịch không ngừng. Diana cặp kè với Dodi. Những tấm hình Diana chụp chung trên du thuyền xuất hiện lan tràn trên mặt báo chí. Tấm hình hai người ôm nhau trên du thuyền kèm theo những lời nghi vấn về mối tình lãng mạn của Diana.
Tháng 10 năm 2007, bác sĩ Hasnat được yêu cầu cung cấp tin tức về quan hệ của hai người. Ông âm thầm rời Anh Quốc trở về Pakistan với mối tình thầm kín.
Bác sĩ Hasnat, sinh ngày 1-4-1959 (47 tuổi) kết hôn với một phụ nữ Pakistan 28 tuổi tên Hadia Sher Ali, nhưng đã ly hôn sau 18 tháng vì tận đáy lòng của ông vẫn còn hình ảnh của Công nương Diana.
8* Tai nạn chết người


Cửa vào đường hầm cây cầu Pont d’Alma, Paris (Pháp)

Lúc 1:00 giờ rạng sáng ngày 31-8-1997, sự hiện diện của Công nương Diana và Dodi tại nhà hàng khách sạn Ritz do cha của Dodi làm chủ, không che giấu được đám săn ảnh (Paparazzi). Họ vây quanh trước cửa. Nhân viên bảo vệ khách sạn ra yêu cầu giải tán nhưng họ không đi.
Để tránh đám người săn ảnh, Diana và người yêu Dodi cùng với viên bảo vệ khách sạn là Trevor Rees-Jones đi ngã sau lên xe do nhân viên bảo vệ khách sạn là Henri Paul lái xe.
Đám săn ảnh gần một chục người bám theo xe của Diana và Dodi.
Chiếc Mercedes-Benz W140 chui vào đường hầm gần cây cầu Pont d’Alma, Paris (Pháp) để về căn biệt thự của Dodi ở Paris.
Cố tránh đám săn ảnh, chiếc Mercedes tăng tốc độ lên tới 112 km/giờ. Chiếc xe đâm vào một trụ bê tông trong đường hầm. Đầu xe bể nát.
Dodi và người lái xe là Henri Paul chết ngay tại chỗ. Lúc đó là 1:10 phút rạng sáng ngày 31-8-1997. Diana và cận vệ Trevor Rees-Jones bị thương nặng, được chở vào bịnh viện Pitié Salpétrière. Diana chết vào lúc 4 giờ sáng. Cận vệ còn sống nhưng bị chấn thương sọ não nên không nhớ việc gì đã xảy ra cả.
9* Đám tang Công nương Diana


Quan tài với thi thể Công nương Diana được mang vào bên trong Tu viện Westminster Abbey để tiến hành nghi thức tang lễ.


Nữ hoàng Elizabrth II, hai hoàng tử William và Harry, Thái tử Charles

Quan tài phủ cờ Hoàng gia được Thái tử Charles và hai người chị của Diana đưa về London vào ngày 31-8-1997.
Sau cuộc khám nghiệm tử thi, quan tài được đưa vào bên trong nhà thờ Hoàng gia Westminster Abbey để tiến hành nghi thức tang lễ.
Trong lúc nầy Nữ hoàng Elizabeth II và hai hoàng tử William (15 tuổi) và Harry (12 tuổi) đang ở Balmoral, vì Nữ hoàng không muốn hai hoàng tử phải chứng kiến cảnh đau thương đang tràn ngập cả nước Anh. Đồng thời tránh báo chí soi mói vào họ.
Nhiều câu hỏi được đặt ra như: Vì sao không có thành viên viên nào của Hoàng gia đến tiễn biệt Công nương tại nhà thờ Hoàng gia?. Vì sao trong số họ không có ai viết vào sổ tang?.
Từ 5 giờ sáng, người dân lần lượt đến đặt hoa tưởng niệm tại các cửa chung quanh cung điện. Số lượng hoa tăng lên rất nhanh, trở thành một biển hoa khiến cho vòng đai an ninh phải thay đổi vị trí nhiều lần.
Bên trong, ca sĩ Elton John hát bài “Ngọn nến trong gió” (Candle in the Wind). Phóng viên trong và ngoài nước hiện diện rất đông.
Bên ngoài cung điện, Nữ hoàng và Thái tử Charles đi đến trước đám đông, trò chuyện và lắng nghe những lời chia buồn của họ.
Tang lễ có hai triệu người theo dõi bằng trực tiếp truyền hình.
10* Cuộc điều tra không phải để tìm ra thủ phạm
10.1. Kết luận của ban điều tra
Do cáo buộc của tỷ phú Mohamed Al-Fayed, cho rằng Hoàng gia âm mưu giết Diana và con ông là Dodi, ngày 2-10-2007, một cuộc điều tra lớn đã mở ra do Hầu tước Stevens làm trưởng ban.
Sau sáu tháng, với chi phí lên tới 10 triệu bảng Anh, ban điều tra đã đưa đến kết luận cuối cùng, đó là cái chết của Diana và Dodi do sự bất cẩn của người lái xe tên Henri Paul. (Paul lái xe trong tình trạng say rượu, mức độ cồn trong máu cao gấp ba lần cho phép của luật nước Pháp).
Diana và Dodi chết trong tai nạn do sự rượt đuổi gắt gao của những tay săn ảnh. Cả hai đều không có thắt dây an toàn.
Kết luận nầy của ban điều tra bị nhiều người phản đối khiến cho ban điều tra phải mất 4 ngày tranh cãi về việc phản đối nầy, tuy nhiên kết luận vẫn giữ nguyên như cũ.
10.2. Một người Pháp gốc Việt trong tai nạn chết người nầy




Anh Lê Văn Thanh, người Pháp gốc Việt, bên chiếc xe Fiat Uno.

Nhật báo The Mail ra ngày 31-12-2006 tiết lộ đã tìm ra người bí mật trong vụ tai nạn gây ra cái chết cho Diana và Dodi vào ngày 31-8-1997.
Bài báo cho biết người nầy là một thanh niên 31 tuổi (2006) người Pháp gốc Việt tên là Lê Văn Thanh, lái chiếc Fiat Uno màu trắng đã quẹt vào phía sau đuôi bên phải của chiếc Mercedes chở Diana và Dodi, khiến chiếc xe phải đâm vào tường của đường hầm làm chết ba người trên xe.
Bài báo cho biết tiếp, Lê Văn Thanh đã bị cảnh sát Pháp thẩm vấn, khi các chuyên viên xác nhận rằng màu trắng của loại xe Fiat Uno do anh Thanh lái phù hợp với màu trắng còn in lại trên vết trầy phía sau đuôi của xe Mercedes.
Các thám tử Pháp cho biết, ông François Lê, cha của Lê Văn Thanh, xác nhận rằng con trai của ông có dính dáng đến tai nạn xảy ra ngày 31-8-1997, lúc đó Thanh chỉ mới 22 tuổi. Thanh quá sợ hải nên tìm cách che giấu bằng chứng, là đem sơn xe màu trắng thành màu đỏ.
Ông François Lê thuật lại, vào đêm đó Thanh về nhà với vẻ hốt hoảng và sợ hải nhưng không thuật lại điều gì với ông cả, mà thì thầm to nhỏ với người em là Dũng Lê, một thợ máy của công ty Fiat, rồi hai anh em ra khỏi nhà vào lúc nửa đêm để sơn lại chiếc xe cũ 15 năm. Hai anh em dùng sơn xịt biến màu trắng thành màu đỏ trong hai tiếng đồng hồ.
Điều quan trọng là người em của Thanh là Dũng Lê đã vắng mặt suốt hai tháng sau tai nạn.
Cảnh sát Pháp cho các nhà điều tra Anh biết địa chỉ của hãng xe mà Dũng Lê đang làm việc nhưng họ không đến đó để xác nhận sự vắng mặt của Dũng.
Tờ The Mail nói rằng Hầu tước Stevens cho biết cuộc điều tra của ông không phải là tìm ra thủ phạm, mà mục đích là chống lại cáo buộc của Mohamed Al-Fayed mà thôi.
Riêng về phần Lê Văn Thanh, anh không muốn tiếp xúc với ai nói về vụ tai nạn đó cả. Cho rằng tai nạn đã làm đảo lộn cả cuộc đời của anh. Giờ đây anh làm nghề lái taxi, lập gia đình và đã có con.
Nhiều nhân vật quan trọng tìm đến nhờ anh giúp đỡ tìm ra sự thật, nhưng anh nói đó không phải là công việc của anh.
Nếu câu chuyện về Lê Văn Thanh do tờ báo The Mail nêu ra là đúng sự thật thì đầu mối gây ra tai nạn chết người chính là Lê Văn Thanh. Vậy muốn biết có âm mưu giết Công nương Diana hay không thì phải điều tra Lê Văn Thanh.
Khi nhận xét tổng quát về mọi “chi tiết Lê Văn Thanh” thì thấy có lẻ Thanh không nằm trong tổ chức hay âm mưu nào cả.
Cũng vẫn còn là một bí mật vì chưa tìm ra bí mật, nếu có.
11* Vở kịch gây bão tố nước Anh
11.1. Những tiết lộ động trời làm chấn động nước Anh
Nước Anh bị một cú sốc nặng bởi những thông tin mới nhất về cuộc đời và cái chết của Công nương Diana. Đó là vở kịch mang tên West End được trình diễn từ ngày 9-1-2015 đến 14-2-2015 tại rạp hát Charing Cross, London.
Vở kịch mang chủ đề “Truth, Lies, Diana” tạm dịch là “Diana, Sự thật và dối trá”.
Nội dung vở kịch được lấy trong cuốn sách của nhà văn John Morgan, mới xuất bản tên là “How They Murdered Princess Diana” (Họ ám sát Công nương Diana bằng cách nào).
Vở kịch nêu những chi tiết động trời làm chấn động nước Anh như, Thái tử Charles không phải là cha của Hoàng tử Harry, Công nương Diana bị ám sát vì đã mang thai với Dodi, và xác của Diana được ướp một cách bí mật. Hoàng gia Anh bị cáo buộc là đứng đàng sau những vụ đó.
11.2. Tiết lộ của tác giả cuốn sách
Tác giả John Morgan cho biết, ông đã dầy công xem xét 7,000 trang tài liệu về báo cáo của cảnh sát, về những hồ sơ y tế và về cái chết của Diana với người tình Dodi Fayed vào ngày 31-8-1997 tại Paris, Pháp.
11.3. Nhưng sự thật ra sao?
Kịch nghệ là một bộ môn nghệ thuật, không phải là một báo cáo chính thức của giới chức có thẩm quyền, cho nên không thể căn cứ vào vở kịch để xác nhận thật, giả, đúng sai, vì trong kịch tác giả có quyền tạo ra hư cấu. Nó chỉ là một dư luận không có giá trị đáng tin cậy về mặt pháp lý.
Phóng viên Sue Ried của tờ Daily Mail viết: “Để kiểm tra mức độ chính xác và thực tế của vở kịch, chính tôi đã điều tra sự kiện nầy bằng cách phỏng vấn những nhân chứng sống, từ phía cảnh sát Anh đến cảnh sát Pháp, bạn bè của Diana và của Dodi, thậm chí các bác sĩ và những người đã từng cố gắng cứu bà sáng hôm đó”.
Mặc dù cái chết của Diana và Dodi rõ ràng là chiếc xe bị tai nạn trong đường hầm do tài xế mất kiểm soát khi xe ở tốc độ cao, vì anh ta đang ở trong tình trạng say rượu. Tòa án cũng xác nhận như thế nhưng dư luận cho rằng Diana bị ám sát và Hoàng gia Anh đứng sau những hành động đó.
Phóng viên Sue Ried cũng bó tay.
11.4. Những nội dung gây ồn ào trong vở kịch
1). Công nương Diana bị ám sát vì mang thai



Trong vở kịch, nhân vật đóng vai Mohamed Al-Fayed, cha của Dodi nói rằng: “Bọn chúng đang chuẩn bị đính hôn để làm đám cưới vì Dianas lúc đó đang mang thai. Nhưng vì họ không muốn một người Á Rập Hồi giáo “làm vua” nước Anh nên ám sát cả hai”.
Đối chiếu với thực tế ngoài đời, tại các cuộc điều tra về cái chết, gia đình Dodi đã cho biết rằng anh ta đã mua một biệt thự ven biển ở miền Nam nước Pháp để đến ở sau khi kết hôn. Biệt thự đó trước kia do nữ tài tử Julie Andrews ở Malibu, California làm chủ.
Trong tấm hình Diana chụp tại St Tropez vào ngày 7-7-1997, chỉ trước khi chết một tháng, cho thấy rõ ràng là cái bụng của Diana đã lớn lên rất nhiều. Và từ đó, dư luận cho rằng Diana đã mang thai.
Sau đó vào năm 2003, một nhà điều tra Pháp khẳng định Công nương Diana đang mang thai khi chết. Tờ Independent đưa tin như thế.
2). Xác Công nương Diana được ướp để phi tang chứng cớ đã mang thai.
Vở kịch West End nhắc lại việc nầy như thế. Sau khi bịnh viện Pháp Pitié Salpétrière tuyên bố Công nương đã chết, thì xác được một nữ bác sĩ Pháp bí mật tiêm chất hóa học formaldehyde vào lúc 2 giờ trưa, tức là 3 tiếng đồng hồ trước khi Thái tử Charles đến nhận xác Diana.
Chất formaldehyde luôn luôn cho kết quả dương tính đối với thai nhi. Thông thường thì các phép thử cho âm tính khi phụ nữ mang thai.
Xác được tiêm thêm một lần nữa sau khi cuộc khám nghiệm tử thi hoàn tất tại nhà xác Fulham ở London.
Ai đã ra lịnh tiêm thuốc vẫn còn là một bí mật. Hoàng gia im lặng thì càng gây thêm nghi ngờ nữa.
12* Chuyện tình 35 năm của Thái tử Charles
12.1. Lễ kết hôn của Thái tử Charles và bà Camilla


Chú rễ 57 tuổi, cô dâu 58 tuổi

Ngày 9-4-2005, Thái tử Charles và bà Camilla Rosemary tổ chức một lễ kết hôn kín đáo, chỉ có 30 người gồm bạn thân và gia đình tham dự, tại tòa thị chánh địa phương, Windsor Town Hall.
Mặc dù cách 8 năm sau khi Công nương Diana thiệt mạng, Thái tử công khai kết hôn với bà Camilla nhưng nhiều người cho rằng ông là người bạc tình và bà Camilla là kẻ phá hoại. Phá vỡ hạnh phúc gia đình của Diana và đưa đến cái chết của Công nương vào năm 1997 trong tai nạn xe hơi ở Pháp.
Báo chí cho rằng “Hai đám cưới một đám ma”.
 12.2. Mối tình chớm nở


Mối tình 35 năm của Thái tử Charles và bà Camilla

Thái tử Charles gặp bà Camilla lần đầu tiên trong một trận khúc côn cầu (Hockey) vào mùa hè năm 1970. Hai người ý hợp tâm đầu nên yêu nhau.
Khi mối tình chớm nở thì Thái tử Charles phải gia nhập vào Hải quân Hoàng gia đi làm nhiệm vụ ở vùng Caribbean.
Hai năm sau, khi Charles trở về thì bà Camilla đã kết hôn với Andrew Parker Bowles hồi tháng 7 năm 1973.
Sau đó tuy Camilla đã có chồng và Charles đã có vợ nhưng hai người vẫn tiếp tục lén lút đi lại với nhau.
Công nương Diana phát hiện và nổi cơn ghen. Trong nhà lời qua tiếng lại đến to tiếng với nhau. Năm 1986, trong cơn ghen Diana đã thét vào mặt chồng, gọi Camilla là “con chó cái đó đã nằm trên giường của tôi”. Tình hình căng thẳng mãi, đưa đến kết cuộc là ly thân rồi ly hôn.
Trước đám cưới của Thái tử Charles, những người mến mộ Diana đã gởi hàng trăm ngàn lá thơ, email, gọi phone để xỉ vả và đe dọa giết bà Camilla, khiến Thái tử Charles phải bỏ tiền túi hàng chục ngàn bảng Anh để lập đội bảo vệ an ninh 24/24 giờ cho Camilla. Vì lúc đó bà Camilla chưa có liên hệ gì đến Hoàng gia nên không thể cử nhân viên chính phủ đến giữ an ninh cho bà.
Thái tử Charles mong muốn cho bà Camilla sẽ làm hoàng hậu khi ông lên ngôi vua nhưng chưa suôn sẻ vì người vợ thứ hai nầy có nhiều khuyết điểm, nhất là về mặt đạo đức. Trước hết bà chưa được cảm tình của quần chúng và khuyết điểm lớn nhất là không thể phong hoàng hậu cho người phụ nữ đã từng phản bội người chồng trước là Andrew Parker Bowles, ngoại tình thường trực với Thái tử Charles trước khi ly dị.
13* Vài nét tổng quát về Công nương Diana xứ Wales
13.1. “Công chúa của công chúng”
Công nương Diana sinh ngày 1-7-1961, mất ngày 31-8-1997. Diana trở nên nổi tiếng sau khi kết hôn với Thái tử Charles. Cuộc sống của Diana trở thành đề tài chú ý của công chúng do địa vị hoàng gia, sắc đẹp và các hoặc động từ thiện.
Từ lúc kết hôn với Thái tử Charles năm 1981 cho đến lúc thiệt mạng năm 1997, hình ảnh của Công nương Diana được xuất hiện ở vị trí trung tâm trên sân khấu thế giới. Được mệnh danh là người phụ nữ được chụp hình nhiều nhất thế giới. (The world’s most photographed woman).
Được nổi danh là do Vương phi của Hoàng gia, do sắc đẹp và nhất là lòng nhân hậu trong các hoạt động từ thiện, nhân đạo.
Công nương ước mong được trở thành nữ hoàng trong trái tim của mọi người. (I’d to be a queen of people’s hearts)
Hạnh phúc gia đình tan vỡ, yểu mệnh ở tuổi 36, Công nương Diana đã đi sâu vào tình thương yêu của thần dân Vương quốc Anh.
Năm 1999, tên của Công nương Diana được tạp chí Time ghi vào danh sách 100 người quan trọng nhất thế kỷ XX.
Năm 2002, đài BBC tổ chức cuộc bình chọn “10 người Anh vĩ đại nhất”, thì Công nương Diana được xếp thứ 3 trong danh sách 10 người vĩ đại nhất nước Anh.
13.2. Các hoạt động từ thiện


Diana trò chuyện với bệnh nhân AIDS Waye Taylor tại một bệnh viện dành cho bệnh nhân AIDS ở Toronto năm 1991. (Ảnh AP)


Công nương Diana đã bảo trợ cho 100 tổ chức từ thiện, trong đó có tổ chức Hồng Thập Tự.

Theo ước nguyện của Công nương khi còn sống, một Quỹ The Diana, Princess of Wales Fund” hoạt động góp tiền cho các tổ chức từ thiện. Trong suốt 10 năm, quỹ nầy đã dành 180 triệu USD cho 350 tổ chức từ thiện thế giới.
Năm 2007, hai Hoàng tử William và Harry tổ chức một buổi hòa nhạc kỷ niệm 46 năm sinh nhật của Công nương (1-7-1961 – 2007). Toàn bộ số tiền được đưa vào quỹ từ thiện.
Năm 1987, bức ảnh Công nương cầm tay một người đàn ông đã gây xúc động cả thế giới, người đàn ông đó không phải là một nhân vật quan trọng, mà là một người bị nhiễm AIDS. Đặc điểm của tấm hình là Công nương không mang bao tay như nhiều người khác đã làm. Dư luận ghi nhận Diana làm việc từ thiện với tấm chân tình chớ không mang tính ngoại giao hay trình diễn.
Mớm cơm cho trẻ em bịnh tật, bước đi trên cánh đồng đầy mìn ở Angola với chiếc áo chống đạn…Những người hâm mộ gọi Công nương là “Công chúa của công chúng”.
Tổng Thống Bill Clinton nói về Công nương Diana như sau: “Năm 1987, Diana đã ngồi bên giường một người bị AIDS và cầm tay anh ấy đầy thương cảm. Cô ấy chỉ cho thế giới thấy rằng những người nhiễm AIDS rất xứng đáng được nhận lòng trắc ẩn và sự tử tế của mọi người”.
14* Kết luận
Khi cô giáo tiểu học Diana bước chân lên xe hoa về làm dâu Hoàng gia Anh thì một viễn ảnh vô cùng rực rỡ của đời sống hạnh phúc vương giả hiện ra. Cô sẽ trở thành Hoàng hậu của nước Anh. Nhưng đáng tiếc, nó không thành hiện thực.
Tiếp theo là thời gian sống trong đau khổ suốt 15 năm đoạn trường, khiến cho Công nương phải thốt lên là “bị đánh đập và bạo hành suốt 15 năm” . Có lẻ trong cơn khủng hoảng thần kinh và trầm cảm nên mới cường điệu hóa cuộc sống như vậy, nhưng dù sau đó cũng là thời gian đau khổ nhất của cuộc đời. Hoàng gia Anh luôn luôn là mục tiêu mà truyền thông nhắm vào, vì thế cho nên luôn luôn có một tấm màn bí mật bao trùm.
Sống trong đau khổ, chết yểu ở tuổi 36, xem như là hồng nhan bạc phận. Nhưng hình ảnh Công nương Diana đã ăn sâu vào lòng của người dân Anh. Đúng là “Công chúa của công chúng”  theo ước nguyện của bà là sẽ trở thành nữ hoàng trong trái tim của mọi người.
Quần chúng Anh đã xếp Công nương Diana vào một trong 10 người vĩ đại nhất của nước Anh, và một trong 100 người quan trọng nhất của thế kỷ XX. Chứng tỏ họ quý mến Công nương như thế nào.

Trúc Giang

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015

TIẾNG HÁT VƯỢT THỜI GIAN

BIẾT NÓI GÌ VỀ THÁI THANH?

 
Không chỉ một người, tiếp cận “hiện tượng” Thái Thanh từ góc độ “tiểu sử” (một tiểu sử “trải dài” vài thời kỳ lịch sử thăng trầm của đất nước, mà chủ yếu là “đất nước” VNCH trước 1975) cùng toàn bộ gia tài đồ sộ (năm bẩy trăm) các ca khúc bà đã hát (từ dân ca, tình ca, đến tâm ca, bi ca, hoan ca, hùng ca, đạo ca, …), đã gọi bà là tiếng “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi“. Cũng không chỉ một người, từ góc độ “thưởng thức ca nhạc”, mệnh danh bà là “tiếng hát vượt thời gian“, “giọng ca vàng không tuổi” – chính xác là “The Ageless Golden Voice“, như được in trên bìa một băng nhạc SG xưa. (Chưa kể đến năm 1998 tôi được nghe một danh xưng nữa dành cho danh ca, từ miệng một giáo viên mới ở Hà Nội vào Sài Gòn: “Ở ngoài ấy người ta gọi Thái Thanh là Tiếng Hát Lên Đồng“!)
 
 
Những danh xưng ấy dành cho Thái Thanh tất nhiên không thuyết phục tất cả mọi người (Việt Nam), mà chỉ đúng đối với những ai yêu mến bà. Vì sao? Giọng hát của nữ danh ca này không dành cho những đôi tai (1) không chuộng các “âm tần cao“, và/hay (2) không chuộng các “cường độ biểu cảm – đặc biệt là bi cảm – quá lớn” (gọi nôm na là “quá mùi“). Tuy nhiên con số những kẻ yêu (giọng hát) Thái Thanh là không nhỏ, và trong số ấy cũng không hề thiếu những tên tuổi lớn các nhà làm văn học nghệ thuật (như nhạc sĩ Phạm Đình Chương, nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Cung Tiến, danh cầm Nghiêm Phú Phi, nhà văn kiêm nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Du Tử Lê, nhà thơ Nguyên Sa, …), cho nên những lời xưng tụng dành cho người ca sĩ ấy không thể “hàm hồ” được; chúng tất yếu phải “chính xác” và “xứng đáng”. Trong chủ quan hạn hẹp của người viết bài này, tiếng hát Thái Thanh có thể ví như một “đặc sản”, chỉ dành cho những kẻ “sành điệu”, đồng thời cũng từ chối quyết liệt những ai không là “đồng điệu”. Bạn sẽ nhăn mặt: “Làm gì có một đặc sản như thế“? Xin thưa rằng có: Quả sầu riêng! Đúng vậy, mặc ai có thể “bịt mũi xua tay”, vẫn không hiếm người lõi đời “nghiện” nó, xem nó là “số Một“, và nó luôn là một trong những loại quả “quí và đắt nhất”. Vậy thì, vâng, có nhiều người tôi quen biết “nghiện” Thái Thanh (và nghiện cả sầu riêng)! Thậm chí đối với họ chỉ có mỗi một mình Thái Thanh biết “hát”, còn những ca sĩ khác chỉ là “phát âm một cách khổ sở”. (Tôi nhớ đến truyện biếm “TIẾNG HÁT” khi nghe ai phát biểu về Thái Thanh tương tự như vậy.)
Nói về “ngôi vị” của Thái Thanh trong giới ca sĩ Sài Gòn trước 75 có lẽ không ai chính xác bằng “người trong giới”, đặc biệt là một trong các danh ca hàng đầu thủa ấy – Lệ Thu. Năm 1970, nhân chuyến tham dự khai mạc Hội Chợ Osaka, Nhật Bản, Lệ Thu đã trả lời phỏng vấn của báo chí: “Nếu chị Thái Thanh có mặt ở đây và hát, mọi người sẽ cúi đầu khâm phục!“. Cũng chính Lệ Thu, trong một ca khúc hải ngoại nhớ về Sài Gòn, đã “sửa đổi” một đôi chữ khi hát “Đâu rộn ràng tiếng hát Thái Thanh?” Kiêu ngạo và đắt giá nhất trong giới ca sĩ ngày đó, Lệ Thu chỉ chấp nhận “nghiêng đầu” trước Thái Thanh.
 
 
Sự thật thì sao? Mặc dầu Thái Thanh đi trước cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề so với hai diva Lệ Thu và Khánh Ly (cũng như với hầu hết các ca sĩ khác), giọng lẫn cách hát của bà vẫn “sung mãn” và “nồng nàn dữ dội” nhất, đặc biệt với những ca khúc như:
1) CHUYỆN TÌNH BUỒN
2) ĐẠO CA 8 – GIỌT CHUÔNG CAM LỘ
3) ĐẠO CA 9 – CHẮP TAY HOA
4) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ
5) RU TA NGẬM NGÙI
6) TẠ ƠN ĐỜI
7) TIẾNG HÁT TO

Tôi vẫn tin là bạn không cần nhìn các ca sĩ (Việt Nam) “làm trò” khi họ hát, mà chỉ cần nghe cách phát âm cũng đủ để phân biệt và xếp hạng họ là loại ca sĩ nào. Nhưng đối với Thái Thanh thì khác, bạn nên ngắm “khẩu hình” của bà lúc bà hát – cái cách bà cấu âm (articulate) từng “âm”, từng “chữ” – chuyển động của má, môi, cơ miệng, lưỡi, hàm (răng) trên, hàm (răng) dưới, xương quai hàm (tất cả với ý thức duy nhất – và cũng cao nhất: sao cho mỗi “âm”, mỗi “chữ” được “phóng thích” chuẩn xác, sắc cạnh, mãnh liệt, và biểu cảm nhất có thể) [*]; điều đó tác động cả đến đôi mày, cũng như vầng trán, và tất nhiên rồi, cả đôi mắt của người hát nữa. Mà không chỉ thế, hãy nhìn thanh quản ở cổ, nhìn hai vai, và tay, … của bà. Có vẻ cách “phát âm” / “cấu âm” của Thái Thanh, bắt đầu từ “bộ máy phát âm”, đã tác động hoàn toàn tự nhiên đến các cơ trên mặt, rồi lan tỏa toàn thân. Khi hát, Thái Thanh như “đang bơi”, hay “đang bay”, (theo nghĩa đen) trong âm nhạc, và toàn bộ ngôn ngữ cơ thể của người ca sĩ ấy toát lên thông điệp này: Được cất tiếng hát, đối với bà, là Tất Cả – là Sự Sống, là Hạnh Phúc vô bờ.
 
Để thấy/hiểu phần nào niềm hạnh phúc của “Người Đàn Bà Hát” Thái Thanh, bạn có thể (click vào) xem các clip này (và đừng quên rằng lúc ấy bà đã U70):

Và nếu muốn nghe đầy đủ hơn các bài hát của Thái Thanh, mời bạn click vào đây. Trang này được mở ra không với mục đích nào khác hơn là để dành tặng cho những ai yêu mến tiếng hát Thái Thanh. (Rất tiếc là chúng tôi không thể gửi tặng nó cho người ca sĩ ấy, vì bà đã vào ở hẳn một Viện Dưỡng Lão, ở Hoa Kỳ, từ mấy năm nay rồi.)
________________________
[*] Không phải tình cờ mà ca sĩ được xem là hàng đầu (VN) hôm nay – Thanh Lam – cũng có cách phát âm / cấu âm chuẩn xác, sắc cạnh, và mãnh liệt nhất so với tất cả các đồng nghiệp cùng thời! Kỹ thuật phát âm / cấu âm phải là tiêu chí đầu tiên để đánh giá một giọng hát bất kỳ của một ngôn ngữ bất kỳ nào.

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015

Xe Honda đầu tiên tại Việt Nam


Những chiếc xe máy Honda xuất hiện đầu tiên tại miền nam Việt Nam vào đầu thập niên 1960 do những thiện nguyện viên Mỹ đến làm công tác dân sự vụ nhằm giúp đở phát triển kỹ thuật và kinh tế tại miền nam sau khi đất nước bị chia đôi bởi Hiệp Định Genève 1954 ký kết giửa Việt Nam DCCH và Pháp.

Trong bối cảnh thị trường xe 2 bánh gắn động cơ vào thập niên 1950, đa số các loại xe sử dụng tại miền nam Việt Nam được nhập từ Âu Châu: Vespa, Lambretta, Puch, Mobylette-Motobécane, VéloSolex, các loại xe gắn động cơ Sachs như Goebels, Phénix... Một phần do độ tin cậy vào hàng hoá của Âu Châu sản xuất, một phần nghi ngờ vào độ bền những sản phẩm Nhật Bản sản xuất sau Thế Chiến thứ hai 1939-1945.

Thật ra hàng hoá Nhật Bản sản xuất sau 1945 đáp ứng lại nhu cầu tiêu dùng, tuy không bền chắc bằng những sản phẩm của Âu Châu nhưng được sản xuất hàng loạt với giá rẻ. Qua thập niên 1950, công nghệ hàng tiêu dùng Nhật Bản đã đạt được tiêu chuẩn quốc tế nhưng với những ấn tượng xấu còn lại của người tiêu thụ trong nước nên những mặt hàng Âu Châu vẫn còn chiếm lãnh thị trường Việt Nam. Trong khi các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Cam Bốt đã tiêu thụ hàng hoá Nhật như máy thu thanh radio, máy ảnh, máy ghi âm, máy kéo... và xe máy Nhật.

Sơ lược về những xe máy Honda 50cc đầu tiên

Ý tưởng sản xuất một xe máy 50cc mới (3.1 cu in) đã được hình thành vào năm 1956, khi Soichiro Honda và Takeo Fujisawa của Honda Motor viếng thăm Đức Quốc (Công Hoà Liên Bang Đức hay Tây Đức lúc ấy) và họ đã chứng kiến ​​sự phổ biến của xe gắn máy và xe máy hạng nhẹ. Soichiro Honda chủ yếu là nắm vững kỹ thuật và cũng là lãnh đạo sản xuất của công ty, luôn luôn có con mắt hướng tới chiến thắng trên đường đua, trong khi đối tác thân cận của ông ta là Fujisawa, một người chuyên về tài chính và kinh doanh, cùng nhau hợp tác bán hàng và cùng xây dựng chiến lược nhằm thống trị thị trường và hoàn toàn tiêu diệt đối thủ cạnh tranh với Honda Motor. Fujisawa đã suy nghĩ về một chiến lược mở rộng dài lâu và không giống như các công ty sản xuất xe máy khác của Nhật Bản chỉ đơn giản là đẩy mạnh sản xuất để thu lợi nhuận trong sự bùng nổ kinh tế tại Nhật Bản thời hậu chiến. Một xe gắn máy nhỏ có hiệu suất cao là trọng tâm kế hoạch của Fujisawa. Người tiêu dùng trong thời hậu chiến ở Châu Âu thường khi di chuyểnthì trước tiên, họ đi từ một chiếc xe đạp với một động cơ kẹp theo trên khung xe, sau đó họ mua một chiếc xe scooter, rồi tiếp sau đó là một chiếc xe hơi tí hon, và liền sau đó một chiếc xe ô-tô nhỏ và cứ như thế đi lên; Fujisawa thấy chiếc xe máy không phù hợp với kích thước một người trung bình, và ông đã nắm bắt cơ hội để thay đổi điều đó. Lúc ấy Soichiro Honda mệt mỏi cứ nghe Fujisawa lải nhải nói về ý tưởng chiếc xe máy mới của mình. Ông Honda đến châu Âu để giành chiến thắng cuộc đua xe ở Isle of Man TT và muốn suy nghĩ về những thứ khác. (Về ông Takeo Fujisawa, mời xem bài Honda N360 trên blog).

Photobucket

Photobucket
Chiếc xe máy Kreidler K50 đời 1954 của Đức Quốc là nguồn cảm hứng của Takeo Fujisawa, người đã thúc đẩy Soichiro Honda nhắm vào thị trường xe máy nhỏ dựa trên kiểu xe nầy - rẻ tiền và dể bán - Honda đã chinh phục thế giới

Fujisawa và Honda đã đến thăm những phòng trưng bày xe Kreidler và Lambretta, Fujisawa cũng như những người khác, đã chủ tâm nghiên cứu các loại xe gắn máy. Fujisawa cho biết thiết kế các kiểu xe nầy "không có tương lai" và sẽ không bán chạy. Khái niệm của ông là một xe 2 bánh cho tất cả mọi người, một kiểu xe sẽ thu hút cả những quốc gia đã phát triển và đang phát triển, ở đô thị và nông thôn. Cổ xe máy mới cần có công nghệ đơn giản để tồn tại ở những nơi mà không cần đến phải cập nhật hoá kỹ thuật và dựa vào các công cụ tiên tiến hoặc các phụ tùng thay thế. Lời than phiền của của người tiêu dùng phổ biến là tiếng ồn của động cơ, độ tin cậy kém, đặc biệt là trong các linh kiện điện và khó khăn chung chung của việc sử dụng sẽ phải được giải quyết. Bởi vì Honda là một công ty lớn đang phát triển lớn hơn, nó cần một sản phẩm hấp dẫn đại chúng có thể được sản xuất trên quy mô rộng lớn. Thiết kế chiếc xe phải được sắp xếp ra trước khi bắt đầu sản xuất, bởi vì nó sẽ thật tốn kém để sửa sai các vấn đề trong một số lượng lớn khi đã đưa vào quy trình sản xuất. Loại xe scooter gần như phù hợp với dự án, nhưng quá phức tạp để duy trì đối với các nước đang phát triển, và kích cở các bánh xe scooter nhỏ bé phô ra sự yếu kém trên những con đường xấu vì bảo quản sơ sài hoặc gần như không tồn tại. Một trong những yêu cầu mà Fujisawa đã quan niệm rằng chiếc xe có thể được lái bằng một tay trong khi tay kia mang theo một khay mì soba, Fujisawa nói với Honda: "Nếu ông có thể thiết kế một chiếc xe máy nhỏ, cở 50 cc với một tấm bửng che dấu động cơ, những ống dẩn và các dây bên trong, tôi có thể bán nó. Tôi không biết có bao nhiêu cửa hàng mì soba ở Nhật Bản, nhưng tôi đặt cược với ông rằng mỗi cửa hàng sẽ muốn có một xe như thế để làm việc giao hàng."

Photobucket
Những xe Honda đầu tiên xuất hiện trên thị trường Hoa Kỳ: trong hình là Honda Super Cub C100 và Sport C110

Một khi đã quan tâm đến, Soichiro Honda bắt đầu phát triển kiểu xe Super Cub khi trở về Nhật Bản. Năm sau Honda cho ra một mô hình thử nghiệm để Fujisawa xem mà phù hợp với những gì ông ta đã có trong tâm trí, Fujisawa tuyên bố sẽ bán được 30.000 chiếc xe hàng tháng trên doanh thu hàng năm, 30.000 xe là một nửa số xe 2 bánh của toàn bộ thị trường bán ra hàng tháng tại Nhật Bản. Mục tiêu của ông ta là xuất khẩu trên một quy mô chưa bao giờ có thể hình dung được trong những rối loạn kinh tế thời hậu chiến ở Nhật Bản, khi những nỗ lực thương mại ngăn chặn hầu hết các công ty được xử lý thông qua công ty thương mại nước ngoài. Honda sẽ phải thành lập công ty con ở nước ngoài của họ để cung cấp các dịch vụ cần thiết cùng những phụ tùng thay thế được phân phối trong một nước lớn như ở Hoa Kỳ. Đó là việc công ty American Honda Motor Company được thành lập vào năm 1959. Năm 1961 một mạng lưới bán hàng được thành lập ở Đức, sau đó tại Vương Quốc Bỉ và Vương quốc Anh vào năm 1962, và sau đó ở Pháp vào năm 1964.


Photobucket
Honda Juno, một xe tay ga đầu tiên của Honda Motor Co.Ltd. ra đời năm 1954 với động cơ 4 thì 189cc (kiểu K) và 220cc (kiểu KA và KB) nhằm cạnh tranh với các xe Fuji Rabbit và Mitsubishi Silver Pigeon

Honda Juno là xe scooter đầu tiên sử dụng nhựa polyester, sợi thủy tinh hoặc nhựa gia cố (FRP) trên thân xe, và mặc dù việc sản xuất xe Juno đã dừng lại vào năm 1954 do kết quả của vấn đề tài chính và lao động Honda Motor vào thời điểm đó, Fujisawa tiếp tục khuyến khích nghiên cứu kỹ thuật đúc nhựa polyester, và những nỗ lực đó là thành quả cho xe Super Cub. Tấm bửng chắn xe gắn máy mới sẽ làm bằng polyethylene, là chất nhựa được sử dụng rộng rãi nhất, giảm trọng lượng hơn nhựa gia cố FRP, nhưng nhà cung cấp phụ tùng của Honda trước đây đã không bao giờ làm việc đúc nhựa lớn như vậy, vì thế việc đúc nhựa phải do Honda tự làm lấy. Xe Super Cub là chiếc xe máy đầu tiên sử dụng một tấm bửng đúc bằng nhựa. Sử gia về xe máy Clement Salvadori đã viết rằng tấm cản chân khiên nhựa phía trước đã "có lẽ đó là đóng góp lớn nhất của xe Cub; tấm bửng nhựa đã làm công việc tương tự như kim loại với chi phí kể ra thấp hơn". Các kỹ thuật phát triển trong chương trình đua xe tại Isle of Man ​​TT thật quan trọng để trọng lượng xe gắn máy mới nhẹ, thực hiện cổ máy 3,4 kW (4,5 hp) 50cc bốn thì Honda tại nơi mà các động cơ đầu tiên của công ty được chế tạo một thập kỷ trước đó, một "bản sao khá chính xác" của động cơ Tohatsu 50cc hai thì, loại động cơ thặng dư sau thời chiến mà Honda đã bán ra như xe đạp gắn động cơ phụ trợ, loại động cơ chỉ có sức mạnh 0,37-0,75 kW (0,5-1 hp). Cổ máy bốn thì đầu tiên của Honda vào năm 1951 cho kiểu xe Type E, có nhiều mã lực hơn một chút so với xe Super Cub, với 3.7 kW (5 mã lực), với gần gấp ba lần dung tích máy với 146 cc ( 8.9 cu in).

Photobucket
Một vài kiểu xe Honda nhỏ trong đầu thập niên 1960 với động cơ 4 thì OHV

Để sản xuất chiếc xe máy mới, Honda đã xây dựng một nhà máy mới với 10 tỉ đồng ¥ ở Suzuka, Mie Prefecture, năng suất chế tạo của nhà máy đến 30.000 chiếc xe, và với hai ca, đạt đến 50.000 xe Super Cubs mỗi tháng. Nhà máy sản xuất được phỏng theo mô hình dây chuyền sản xuất xe Volkswagen Beetle tại Wolfsburg, Đức Quốc. Trong thời điểm nầy, các kiểu xe hàng đầu của Honda chỉ bán ra được khoảng từ 2.000 đến 3.000 xe mỗi tháng, và những quan sát viên nghĩ rằng chi phí của nhà máy mới quá lớn và quá mạo hiểm. Edward Turner của công ty xe máy BSA Anh Quốc đã thăm viếng Nhật Bản để xem ngành công nghiệp xe máy trong tháng 9 năm 1960 cho biết việc đầu tư mới với kích thước của nhà máy Suzuka "cực kỳ nguy hiểm" bởi vì thị trường xe máy ở Hoa Kỳ đã đến mức quá tràn đầy. Khi hoàn thành vào năm 1960, nhà máy Suzuka là nhà máy sản xuất xe máy lớn nhất trên thế giới và là một mô hình cho các cơ sở sản xuất hàng loạt của Honda trong tương lai. Nền kinh tế quy mô đã đạt được tại nhà máy Suzuka cắt giảm 18% so với chi phí sản xuất cho mỗi chiếc Super Cub khi nhà máy Suzuka được chạy hết công suất, nhưng trong một thời gian ngắn vấn đề tồn kho dư thừa buộc Honda phải đối mặt khi nhà máy vừa mới đi vào hoạt động trước khi việc bán hàng và mạng lưới phân phối đầy đủ được sắp xếp ổn định.

Photobucket
Honda Super Cub C50 động cơ OHC được bán ở Pháp vào giửa thập niên 1960, một cuộc cách mạng lớn trong công nghệ xe máy: Honda dùng nhựa polyethylene trong quy trình sản xuất - giảm trọng lượng xe và giá thành hạ

Thị trường xe máy Honda ở Đông Nam Á

Từ năm 1948, Honda Motor đã có ý định triển khai thị trường xe ra ngoài nước Nhật - một thị trường quốc tế - Honda đã xuất cảng sang Philippines những kiểu xe Dream đầu tiên vào tháng mười năm 1952 và tháng mười một cùng năm, Soichiro Honda đặt chân lần đầu tiên đến Hoa Kỳ. Soichiro vừa đi nghiên cứu thị trường vừa mua máy công cụ để sản xuất cơ phận đem về Nhật.

Với sự cộng tác và điều hành tài chính cùng sự khuếch trương khuyến mãi của ông Takeo Fujisawa, Soichiro Honda mở công ty American Honda Motor Inc. vào tháng sáu năm 1959. Một cộng tác viên khác của Soichiro, ông Kihachiro Kawashima lại cổ võ cho việc mở thị trường sản phẩm Honda ở Malaysia nhưng Soichiro quyết định thuyên chuyển ông ta đến làm việc ở Hoa Kỳ.

Photobucket
Honda Sport C110 - động cơ 49cc 4 thì OHV, hộp số gồm 3 số chân, tốc độ 80 Km/giờ

Photobucket
Honda C114, một kiểu biến cải từ xe C110 với ống pô thấp

Photobucket
Honda CT105 kiểu chạy đường đất, với động cơ 54cc 4 thì OHV, bộ ly hợp tự động, hộp số gồm 3 số và có thể leo độ dốc 45%

Honda Malaysia được thành lập vào năm 1958 khi một doanh nhân chuyên nghề buôn bán xe cũ, ông Loh Boon Siew đã thấy những chiếc xe Honda Super Cub bán tại Hoa Kỳ, ông ta liên lạc với Soichiro Honda và được chấp thuận mở một chi nhánh Honda ở Malaysia, một cơ xưởng lắp ráp xe Honda ở Penang đuợc thành lập và những chiếc Super Cub đầu tiên gọi là KapchaiCub (xe Cub nhỏ) hay là Boon Siew Honda.

Honda Thailand được thành lập vào năm 1964, nhập cảng xe máy và những máy phát điện Honda sau khi Soichiro Honda thành lập các xưởng lắp ráp xe máy ở Taiwan và Nam Hàn, Honda Thailand được mang tên Asian Honda, cơ sở chính của Honda ở Đông Nam Á. Năm 1965, Honda Thailand khai trương cơ xưởng chế tạo xe máy và các sản phẩm khác của Honda, những chiếc Honda Super Cub chế tạo tại Thái Lan xuất xưởng vào năm 1967.

Honda bán xe máy ở Indonesia vào năm 1963, tuy nhiên mãi đến năm 1971 Honda chính thức mở cơ xưởng sản xuất xe máy Honda nội địa.

Photobucket
Một nhân viên Hoa Kỳ trên chiếc Honda C110 tại ngả tư Bùi Viện - Đề Thám, Sài Gòn (góc phải trong hình)

Riêng về thị trường Đông Dương - Việt Nam, Cam Bốt và Lào - vẫn còn ảnh hưởng là thuộc địa cũ của Pháp nên các loại xe máy sử dụng tại miền nam Việt Nam được nhập cảng từ Châu Âu mãi cho đến khi những chiếc Honda xuất hiện trên đường phố bởi những thiện nguyện viên Mỹ đến làm việc mang theo trong đầu thập niên 1960. Sau đó vào năm 1965, chính phủ VNCH nhập cảng những xe Honda 50cc đầu tiên cho quân nhân và công chức mua trả góp. Hai nước Cam Bốt và Lào nhập vào thị trường nội địa qua ngả Honda Thailand và Nhật Bản. Vì thời cuộc chiến tranh và thời bao cấp bị cấm vận qua đến thời kỳ "đổi mới" 1986 cho đến khi khối Cộng Sản Đông Âu sụp đổ, Honda chính thức thành lập tại Việt Nam vào năm 1996 và mở nhà máy sản xuất xe Honda vào năm 1997.

Dòng xe Honda tại Việt Nam 1960-1970

Thoạt đầu được nhập cảng từ những thiện nguyện viên Mỹ làm việc, những chiếc Honda nầy là loạt xe mà Honda American Motor Inc. đã nhập vào Hoa Kỳ từ năm 1958 khi ông Soichiro Honda quyết định chinh phục thị trường xe máy ở Mỹ Châu. Những xe Honda nầy được gắn cổ máy 4 thì OHV (OverHead Valves = những van đóng mở buồng đốt được vận hành từ cốt máy và truyền động qua các thanh đủa thép lên đầu máy) nên nghe được tiếng khua những thanh đủa xành xạch khi nổ máy.

Photobucket

Photobucket
Cổ máy 4 thì Honda OHV (OverHead Valves) với 2 thanh đủa truyền động đóng mở van trên đầu máy, hình bên dưới cho thấy một thanh đủa truyền động nằm dưới lòng xi-lanh và pít-tông, gần ống pô xả khói

Khác với dòng xe máy Âu Châu còn mang hình dáng chiếc xe đạp gắn động cơ, những chiếc xe Honda có thiết kế như xe mô-tô với dung tích máy lớn hơn, hình dáng hài hoà và dáng vẻ bền chắc hơn. Tuy nhiên người tiêu thụ vẫn còn hoài nghi về phẩm chất xe máy Nhật trong thời gian đầu khi xe Honda được chính thức nhập cảng vào miền nam Việt Nam qua chương trình mua xe trả góp của chính phủ VNCH dành cho công chức và quân nhân phục vụ trong nước.

Photobucket

Photobucket
Vài hình ảnh xe Honda trên đường phố Sài Gòn xưa

Những chiếc Honda sử dụng tại Việt Nam do các thiện nguyện viên Mỹ mang đến là những chiếc xe với bộ máy OHV có tiếng khuya xành xạch của các van mở đóng buồng đốt khi xe chạy. Những kiểu xe đầu tiên là Honda C-100 và C-110, 2 kiểu xe nầy với động cơ 50cc 4 thì, không xài xăng pha nhớt như các kiểu xe máy 2 thì nhập cảng từ Châu Âu. Honda CA-100 hay C-100 có bộ ly hợp tự động, hộp số gồm 3 số đạp chân và khởi động máy cũng bằng bàn đạp, còn kiểu Honda C-102 có bộ khởi động máy bằng bình điện 6 volts và nút bấm khởi động máy trên tay lái, hai kiểu Honda nầy rất hợp với phụ nữ vì bình xăng thiết kế dưới yên ngồi nên tại Việt Nam gọi là Honda Dame (Dame = tiếng pháp có nghĩa là phụ nữ). Honda C-110 với bình xăng phía trước yên xe nên dành cho đàn ông và ống xả khói vắt lên cao bên phải, bộ ly hợp tay với hộp số gồm 3 số chân. Những kiểu xe Honda gắn động cơ OHV là thành quả của chiến dịch khuyến mãi "You meet the nicest people on a Honda" tại Hoa Kỳ trong đầu thập niên 1960. (Xem bài Honda Super Cub tại Việt Nam).

Photobucket

Photobucket
Cổ máy Honda 4 thì OHC (OverHead Cam) với bộ ván đóng mở buồng đốt cùng trục cam nằm trên đầu máy, hệ thống được vận hành từ trục cốt máy qua dây sên nằm bên cạnh lòng xi-lanh

Khi chính quyền Việt Nam Cộng Hoà cho phép quân nhân và công chức mua xe gắn máy trả góp, một chiến dịch nối tiếp những chương trình phát triển kinh tế và cơ giới hoá miền nam Việt Nam sau đợt hửu sản hoá xe Lambro và Vespa 3 bánh thay thế những xe thồ ngựa kéo và hửu sản hoá xe Taxi: thay thế những xe Taxi Renault 4CV bằng xe Nhật như Nissan và Datsun - Những xe Honda đầu tiên đến với người tiêu thụ gồm 2 kiểu là C50 và S50: kiểu xe C50 với bộ ly hợp tự động, hộp số gồm 3 số còn xe S50 với bộ ly hợp tay và hộp số gồm 3 số - tất cả 2 kiểu đều có bộ nhún trước kiểu giò gà.

Photobucket
Giửa thập niên 1960 trên bải đậu xe, những xe Honda đã tràn ngập ở Sài Gòn

Photobucket
Honda Sport S50 với cổ máy OHC mới, 49cc 5,8 mã lực, hộp số 4 số chân, tốc độ 85 Km/giờ*

Photobucket
Honda Sport S65 động cơ 4 thì OHC, 6,2 mã lực, hộp số 4 số chân, tốc độ tối đa 90 Km/giờ*

Tiếp theo đợt xe Honda là những xe máy Suzuki, Bridgestone và Kawasaki được nhập cảng, những xe kiểu nam với bộ nhún đằng trước thủy điều + lò xo như kiểu xe mô-tô được ưa chuộng hơn là kiểu Honda S50. Hảng Honda lập tức đề nghị kiểu xe mới: Honda SS50 tựa như kiểu xe thể thao S90 với vè chắn bùn bánh sau bằng nhựa và tay lái thấp.

Photobucket

Photobucket

Photobucket
Những kiểu xe Honda SS50 đầu tiên tại Việt Nam (SS50E ở Châu Âu), động cơ 4 thì OHC, 6 mã lực, hộp số gồm 5 số chân, tốc độ 85 Km/giờ

Bên cạnh những xe Honda người Việt sử dụng, những người Mỹ ở Việt Nam được phép đem xe vào để sử dụng, những quân nhân Mỹ mua xe qua hệ thống mua bán của quân đội Hoa Kỳ, những người Mỹ công tác dân sự mua xe qua cửa hàng xuất nhập cảng xe máy ở Sài Gòn. Những xe người Mỹ sử dụng thường có dung tích máy lớn hơn những loại xe Honda 50 do người Việt sử dụng vì những xe 50cc không cần bằng lái xe và không cần đăng ký lưu thông mang bảng số trong những năm 1965-1966, qua năm 1967 với số lượng xe máy ngày mỗi nhiều, chính quyền bắt buộc phải đăng ký lưu thông và gắn bảng số đối với những xe có cấu trúc như xe mô-tô (cần đạp thắng và sang số bằng chân) và những xe gắn máy khác (rập khuôn các luật lệ lưu thông ở Châu Âu).

Photobucket
Những xe Honda do nhân viên và quân nhân Hoa Kỳ sử dụng ở Việt Nam được mang vào theo 3 cách: mua trực tiếp từ Nhật Bản và tự làm lấy giấy phép nhập cảng - thông qua cửa hàng PX của Quân đội Hoa Kỳ hoặc qua công ty xuất nhập cảng như hình trên. Dưới đây là vài kiểu xe Honda có mặt ở Việt Nam

Photobucket
Một xe Honda Z50 Monkey

Photobucket
Một xe Honda CT200 động cơ 86,7cc, 4 thì OHC

Photobucket
Một xe Honda Sport S90, động cơ 89,6 cc, 4 thì OHC, hộp số 4 số chân, tốc độ 110 Km/giờ

Photobucket
Xe Honda CL77 Scrambler, động cơ 4 thì 305,4 cc OHC, hộp số 4 số chân, 27,4 mã lực, tốc độ135 Km/giờ

Tiếp theo kiểu xe Honda SS50 là kiểu xe CL50, một kiểu xe biến cải từ xe SS50 với ống pô vắt, tay lái cao và vè chắn bùn trước và sau bằng thép cùng với lốp xe đặc biệt dùng trên những đường đất thô sơ gồ ghề. 

Photobucket
Một quảng cáo xe Honda Benly CL50 tại Anh Quốc

Photobucket
Kiểu xe Honda CL50 Scrambler tại Nhật Bản

Photobucket
Honda CL50 Scrambler tại Việt Nam

Photobucket
Honda CD50 với hình dáng thanh nhã hơn kiểu Super Sport SS50 và Scrambler CL50

Sau đó là kiểu Honda CD50, một kiểu xe có hình dáng thanh lịch hơn kiểu SS50 nhắm vào những người tiêu thụ cao tuổi hoặc những người không thích kiểu xe thể thao - trong khi đó, kiểu xe SS50 được cải tiến vào cuối thập niên 1960, xe Honda SS50M với bình xăng dẹp, sơn màu xám kim loại không mạ kền, ống pô vắt và 2 vè chắn bùn bằng thép.

Photobucket

Photobucket
Honda SS50M

Photobucket
Honda SS50M tại Sài Gòn
 
Honda không ngừng cải tiến, trước những đối thủ đang cạnh tranh trên thị trường như Suzuki, Kawasaki và Yamaha - những kiểu xe song song với những xe máy rập khuôn xe mô-tô là những chiếc xe nhỏ nhẹ tựa như những xe Mobylette của Pháp và rẻ tiền hơn những chiếc Super Cub, nhắm vào khách hàng ở thành phố nhà cửa chật hẹp và nhu cầu di chuyển thấp, chỉ trên dưới chừng chục kilômét mỗi ngày. Chiếc Honda P50 được ra mắt, kiểu xe tựa như chiếc xe đạp có bộ máy gắn liền vào bánh xe sau như kiểu xe Honda gắn máy đầu tiên đầu thập niên 1950 - xe Cub 50 Type F - nhưng không lâu sau đó, kiểu xe nầy bị chê vì hình dáng cồng kềnh, nặng nề nên Honda thay thế bằng kiểu xe PC50 với bộ máy nằm giửa khung xe tạo sự thăng bằng và dể điều khiển hơn xe P50.

Photobucket

Photobucket
Honda P50

Photobucket
Honda PC50

Photobucket
Honda PC50 và vè chắn

Photobucket
Honda PC trên quảng trường Lam Sơn - Sài Gòn

Ngoài ra còn có những chiếc xe khác được nhập vào Việt Nam, tuy chỉ là số nhỏ, lác đác đếm được trên đầu ngón tay như kiểu Honda Z50 "Monkey", DAX 50... và những xe S65, C50 Trail, C70 và C90. Thị trường xe máy ở miền nam Việt Nam đã bị chinh phục bởi các dòng xe Nhật Bản vào cuối thập niên 1960.

Photobucket
Kiểu Honda Z50 Monkey đầu tiên 1961

Photobucket
Kiểu Honda Z50 Monkey năm 1967

Photobucket
Honda DAX Z50AK1

Nhờ vào việc cải tiến không ngừng đáp ứng nhu cầu của khách hàng với những kiểu xe đa dạng, khác biệt với những xe Suzuki, Kawasaki và Yamaha; Honda chiếm được đa số khách hàng, không những ở Việt Nam mà còn ở trên thế giới, đưa Honda Motor Co.Ltd. lên hàng đầu những thương hiệu xe máy.

Photobucket
Ở Châu Âu, loại xe Monkey nhỏ bé được xếp vào loại xe dùng để giải trí. Trong hình, một xe Monkey cải tiến chất trong xe ô-tô khi đi xa

Photobucket
Loại xe Monkey được mang theo xe Van...

Photobucket
...hoặc gắn đằng sau xe Camping Car. Đây là một chiếc xe Jincheng 50cc JC50 Q-5 "DAX Replica" sản xuất tại China, kể từ năm 1999 Honda Motor Co.Ltd. đã ngưng sản xuất kiểu xe DAX, bỏ rơi bản quyền vào tay các nhà chế tạo xe máy Trung Quốc, trước sự thành công của các xe DAX nhái, 2013 Honda đã trở lại thị trường mini-trail với kiểu xe Honda MSX 125

Photobucket
Ở Châu Âu có những hội dành cho người đam mê xe máy, trên đây là một cuộc họp mặt của các tay lái xe Honda Mini-Trail

Tuy nhiên qua đầu thập niên 1970, thị trường xe máy tại miền nam Việt Nam đã đến mức bảo hoà, nhu cầu mua xe mới giảm xuống mức thấp nhất đồng thời với cuộc chiến tranh không ngớt leo thang cùng với nguồn ngoại tệ giảm dần, dòng xe mới Honda đầu tiên tại Việt Nam ngừng lại ở kiểu xe CD50. Tuy nhiên có điều làm thay đổi thói quen của người Việt từ những chiếc xe máy 2 thì cổ điển Châu Âu, họ bắt đầu cảm nhận được ưu điểm của những bộ máy Honda 4 thì, ít hao xăng và bền bỉ.

Những xe Honda khác trong thập niên 1960-1970


Honda sau khi thành công rực rở trên thị trường Hoa Kỳ với kiểu xe Super Cub C100 vào năm 1958, Soichiro Honda tiếp tục khai trương những chi nhánh và thiết lập những công ty con trên thế giới, thị trường kế tiếp là Châu Âu trong đầu thập niên 1960 với chi nhánh Honda đầu tiên ở Vương Quốc Bỉ (sau đó là cơ xưởng lắp ráp và chế tạo xe Honda đầu tiên ở Châu Âu), lần lượt kế tiếp là Hoà Lan, Pháp, Anh, Đức... Trong khi đó, tại Nhật Bản và một vài quốc gia Đông Nam Á vào năm 1962, người ta thấy một kiểu xe Honda Port Cub C240 với động cơ 50cc OHV xuất hiện, đó là kiểu Honda giảm bớt chi tiết và nhẹ nhàng hơn xe Super Cub, động cơ được cải tiến với hộp số gồm 2 số và cân nặng 54 kilô, giá bán ra tất nhiên rẻ hơn xe Super Cub.

Photobucket
Honda Port Cub C240, một kiểu xe Super Cub C100 giảm bớt các chi tiết và cơ phận - động cơ 49cc 4 thì OHV, hộp số gồm 2 số chân, trọng lượng 54 Kg (Super Cub C100: 75 Kg)

Photobucket
Honda C310, chiếc xe Honda 49cc đầu tiên sản xuất ở Châu Âu nhắm vào kiểu xe máy thực dụng rẻ tiền ở đây. Không thành công nhiều khi đối diện với những xe gắn máy 2 thì tại Châu Âu về tốc độ, thêm vào đó, xe C310 hay bị vấn đề ngẹt xăng trong bộ chế hoà khí khi trời lạnh qua suốt mùa đông. Khiếm khuyết nầy được nhanh chóng sửa chửa với kiểu xe C311 mới và C320 kế đó. Từ việc nầy, Honda rút tỉa kinh nghiệm để phát triển những văn phòng nghiên cứu và thực nghiệm tại mỗi địa phương. Trung tâm nghiên cứu và phát triển đầu tiên đặt tại Vương Quốc Bỉ, kế tiếp tại Ý và Đức Quốc, sau đó phát triển khắp nơi trên thế giới.

Nhà máy lắp ráp và chế tạo xe Honda đầu tiên ở Châu Âu được đặt tại Vương Quốc Bỉ và kiểu xe đầu tiên là chiếc Honda C310, một kiểu xe gần giống như những xe gắn máy ở Châu Âu. Cũng như ở Hoa Kỳ và Châu Mỹ, những dòng xe Honda nhỏ vẫn còn sử dụng cổ máy OHV trong khi những chiếc Honda chính thức du nhập vào Việt Nam đã được thiết kế với động cơ OHC tân tiến hơn.


Photobucket

Photobucket
Honda C320 với động cơ 4 thì 49cc OHV thiết kế với bàn đạp như xe đạp với hộp số tay gồm 3 số vận hành trên ghi-đông như các kiểu xe máy Châu Âu để sử dụng mà không cần phải có bằng lái xe, xe Super Sport nầy khác với kiểu Honda SS50 tại Việt Nam vì nó vay mượn hầu hết hình dạng của xe Honda Sport S90

Photobucket
Đến thập niên 1970, Honda Âu Châu thay đổi hình dáng mẩu mã xe 50cc với bộ đánh lửa CDI, trong hình là xe Honda CB50J

Qua thập niên 1970, dòng xe Honda nhỏ 50cc được cải tiến từ bộ phận đánh lửa bằng vis platine cổ điển qua hệ thống CDI, một bộ phận đánh lửa điều khiển bởi thyristor điện tử tránh sự hao mòn như vis platine. Trong khi dòng xe Honda tại Việt Nam dừng lại thì những dòng xe 50cc mới được cải tiến, những kiểu xe SS50K, SS50Z, CD50 Benly... Xe Super Cub cũng được nâng cấp với kiểu xe C70 và những xe Honda PS50, CF50 Chaly, CT50... có mặt trên thế giới.

Photobucket
Tiếp theo sự thành công vẻ vang về chiến dịch khuyến mãi ở Hoa Kỳ, "You Meet the Nicest People on a Honda " được quảng cáo tại Nhật Bản

Photobucket
Một tài liệu quảng cáo xe Honda tại Nhật Bản năm 1972

Photobucket
Một xe Honda CD50 Benly tại Nhật Bản đầu thập niên 1970

Photobucket
Phiên bản kế tiếp của kiểu Honda CD50 Nhật Bản

Photobucket
Một kiểu Honda Express NC50

Sau chiến tranh Việt Nam 1954-1975, thị trường xe máy không có gì đổi mới vì lẽ bị cấm vận kinh tế cùng nguồn ngoại tệ hiếm hoi, ngoại trừ vài kiểu xe Nhật được đưa vào qua ngả tầu biển. Mãi cho đến năm 1986 khi Việt Nam quay sang chính sách đổi mới, thị trường kinh tế được tháo gở khỏi gông cùm của thời bao cấp, những chiếc xe Honda mới trở lại lăn bánh trên những con đường tại Việt Nam.


Photobucket
Một hình trong một tạp chí ở Hoà Lan đầu thập niên 1970

Photobucket
Một kiểu Honda CD50 với cổ máy OHV bị hạn chế tốc độ tối đa 45 Km/giờ bàn đạp được thiết kế như xe đạp trong cuối thập niên 1960, hộp số tay gồm 3 số không cần bằng lái xe theo luật lệ lưu thông ở Châu Âu nhằm vào khách tiêu thụ thuộc lớp thiếu niên từ 14 tuổi

Photobucket
Một Honda PS50 phiên bản Châu Âu

Photobucket
Honda S90

Photobucket
Honda SS50Z K1

Photobucket
Honda ST90 Trail

Tính đến nay, riêng kiểu xe máy từ 50cc đến 125cc, với những cải tiến không ngừng, những bộ nhún giò gà của Super Cub được thay thế bằng phuộc nhún thủy điều như xe mô-tô, động cơ không còn dùng bộ chế hoà khí mà được thiết kế hệ thống phun xăng bằng kim PGM-FI, Honda đã sản xuất trên dưới 200 kiểu xe từ xưa đến nay nên không thể tóm gọn trong một bài, mời các bạn xem hình.


Photobucket
Honda Little Cub ra mắt vào năm 1997 với bánh nhỏ 14 inches

Photobucket
Kiểu xe mới nhất trong dòng xe Honda Cub: Honda Cross Cub CC110

Hình ảnh những xe Honda đầu tiên tại Việt Nam

Photobucket

Photobucket
Đua xe Honda tại Sài Gòn xưa

Photobucket
Honda SS50

Photobucket
Honda CL50

Photobucket
Những loại xe máy mà đa số là Honda trên đường phố Sài Gòn, Honda quá nổi tiếng nên nhiều người đã gọi xe gắn máy chung chung là xe Honda!

Xe Honda trong chiến tranh

Photobucket

Photobucket

Photobucket
Chạy lánh bom đạn trong chiến tranh bằng xe Honda